Theo lộ trình, khi việc gia nhập WTO có hiệu lực, các nhà phân phối sỉ
và lẻ nước ngoài được phép liên doanh với đối tác VN để kinh doanh tại
VN với mức vốn góp không được vượt quá 49%. Kể từ ngày 1-1-2008, mức
hạn chế này sẽ bị hủy bỏ và kể từ 1-1-2009, các doanh nghiệp có 100%
vốn nước ngoài được hoạt động trong lĩnh vực phân phối bán lẻ tại VN.
Theo lộ trình, khi việc gia nhập WTO có hiệu lực, các nhà phân phối
sỉ và lẻ nước ngoài được phép liên doanh với đối tác VN để kinh doanh
tại VN với mức vốn góp không được vượt quá 49%. Kể từ ngày 1-1-2008,
mức hạn chế này sẽ bị hủy bỏ và kể từ 1-1-2009, các doanh nghiệp có
100% vốn nước ngoài được hoạt động trong lĩnh vực phân phối bán lẻ tại
VN.
Như vậy, ngay sau 30 ngày kể từ ngày Quốc hội VN phê chuẩn
việc gia nhập WTO, các nhà phân phối nước ngoài được quyền hoạt động
tại VN bằng cách liên doanh với các đối tác VN, và nếu kiên nhẫn thêm
khoảng hai năm nữa họ được toàn quyền thành lâp một doanh nghiệp 100%
vốn của mình.
Đến lúc đó, với nền tảng công nghệ, trình độ
quản lý và kinh nghiệm kinh doanh, các nhà phân phối nước ngoài hoàn
toàn có thể thiết lập một hệ thống bán hàng qua mạng ngay sau khi gia
nhập thị trường VN.
Thế nhưng, đến nay giao dịch B2B
(Business to Business - giữa các doanh nghiệp với nhau) tại VN chỉ dừng
lại ở mức tìm thông tin thị trường, bán hàng qua thư điện tử và các
website thương mại điện tử. Các hệ thống mua bán trực tuyến giữa các
doanh nghiệp lớn với nhau hầu như chưa tồn tại (Theo báo cáo thương mại
điện tử năm 2005 của Bộ Thương mại).
Trong khi đó, việc mua
bán trực tuyến B2C (Business to Customer - giữa doanh nghiệp và người
tiêu dùng) và C2C (Customer to Customer - giữa người tiêu dùng với
nhau) tại VN chưa phổ biến và cũng chưa có một doanh nghiệp nào cung
cấp hoàn chỉnh các công đoạn của một chu trình mua bán trực tuyến.
Một hệ thống bán hàng trực tuyến hoàn chỉnh phải đảm bảo yêu cầu sau:
thay vì đến cơ sở của người bán, người mua có thể thực hiện tất cả các
công đoạn của việc mua hàng chỉ thông qua Internet. Nghĩa là người mua
có thể thực hiện việc xem hàng, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng, thụ
hưởng các dịch vụ sau bán hàng... thông qua mạng Internet.
Xem hàng và đặt hàng
Có thể nói thương mại điện tử VN hiện nay chỉ gồm việc thiết lập một
“showroom trên mạng” để giới thiệu về doanh nghiệp và trưng bày các
thông tin cần thiết liên quan đến hàng hóa, dịch vụ.
Trong
một số trường hợp, các website còn thiết lập cơ chế để người tiêu dùng
có thể đặt hàng thông qua email hoặc gọi điện thoại đến nhà cung cấp.
Sau đó nhà cung cấp sẽ vận chuyển hàng hóa đến tận tay người mua và sẽ
tiến hành thanh toán. Trong qui trình giao dịch này, việc mua bán qua
mạng chỉ thể hiện ở giai đoạn xem hàng và đặt hàng, các công đoạn khác
vẫn được tiến hành theo cách thức truyền thống.
Trong khi
các showroom trên mạng được hình thành rất rầm rộ, thậm chí có cả những
showroom để cho thuê (người lập website không dùng nó để trưng bày các
sản phẩm của mình, mà của các doanh nghiệp khác); thì việc mua bán qua
mạng lại chưa được phát triển ở VN. Lý do của vấn đề này nằm ở chính
khâu thanh toán. Có thể nói thanh toán như là một “nút cổ chai” cản trở
sự phát triển của việc mua bán trực tuyến nói riêng và của thương mại
điện tử nói chung ở VN.
Thanh toán
Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước bắt
đầu hoạt động từ tháng 5-2002 và đến nay đã có lượng thanh toán trung
bình 12.000 - 13.000 món/ngày với số tiền là 8.000 tỉ đồng/ngày. Hệ
thống đã kết nối thanh toán cho 232 chi nhánh tổ chức tín dụng và 50
ngân hàng thương mại (Theo báo cáo thương mại điện tử năm 2005 của Bộ
Tài chính). Như vậy, việc thanh toán điện tử giữa các chi nhánh của
ngân hàng và giữa các ngân hàng trong nước với nhau đã liên thông.
Tuy
nhiên, phương thức thanh toán mà các doanh nghiệp có website bán hàng
qua mạng áp dụng chủ yếu hiện nay là chuyển khoản (qua ngân hàng hoặc
qua máy ATM), gửi tiền qua bưu điện, chuyển tiền qua hệ thống chuyển
tiền quốc tế, thanh toán thông qua các thẻ mua hàng trả trước.
Nhược điểm chung của các hình thức thanh toán này là không nhanh gọn,
kéo dài thời gian mua hàng và không đảm bảo mục đích mà người mua mong
muốn khi mua hàng qua mạng: tiến hành tất cả các thủ tục mua hàng tại
chỗ, trên máy vi tính, nhanh gọn. Riêng việc thanh toán qua thẻ mua
hàng trả trước thì đáp ứng được các yêu cầu trên nhưng chỉ đối với
khách hàng thân thiết (những người đã mua thẻ), chưa đáp ứng được các
giao dịch của các khách hàng vãng lai, nghĩa là vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu thanh toán “mọi lúc mọi nơi” của giao dịch B2C.
Trong khi đó, phương thức thanh toán đặc trưng nhất của thương mại điện
tử là thanh toán qua mạng thông qua mã số thẻ ngân hàng thì chưa được
áp dụng tại VN. Các doanh nghiệp bán hàng trực tuyến chưa thể mở tài
khoản thu tiền thanh toán từ thẻ (merchant account) tại các ngân hàng
thương mại tại VN. Người tiêu dùng chưa thể sử dụng thẻ tín dụng để
thanh toán cho các sản phẩm mua tại những website bán hàng trong nước.
Luật về các công cụ chuyển nhượng đã cho phép cá nhân được ký phát sec nhưng mới chỉ có hiệu lực từ ngày 1-7-2006.
Như vậy, việc giải tỏa những trở ngại về thanh toán qua mạng hiện nay
là điều kiện thiết yếu giúp thương mại điện tử nói chung và việc mua
bán qua mạng nói riêng ở VN phát triển, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp trong lĩnh vực này dần quen với phương thức kinh doanh mới để có
đủ sức cạnh tranh khi các hàng rào hoàn toàn bị xóa bỏ theo qui định
của WTO.
Nếu như các ngân hàng không triển khai phương thức
thanh toán mới ngay từ bây giờ, thì đến lúc các hàng rào pháp lý đối
với ngân hàng nước ngoài được dỡ bỏ hoàn toàn, chính các ngân hàng
trong nước sẽ gặp khó khăn để cạnh tranh trong việc kinh doanh các dịch
vụ thanh toán.
Vận chuyển
Một
trong những ưu thế của mua bán trực tuyến là giúp người tiêu dùng có
thể dễ dàng và nhanh chóng mua một món hàng không có ở địa phương mình
với chi phí rẻ. Tuy nhiên, lợi thế này chỉ đạt được khi hệ thống vận
chuyển có chất lượng phục vụ tốt và có mức phí cạnh tranh.
Hiện nay, hầu như chỉ có Tổng công ty Bưu chính viễn thông (VNPT) mới
có thể đảm nhận việc vận chuyển hàng hóa đến tay người tiêu dùng (giao
dịch B2C hay C2C) và là nhà vận chuyển duy nhất có mạng lưới rộng khắp
cả nước. Ngoài ra, Tổng công ty Đường sắt VN cũng có thể đảm nhận điều
này nhưng chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực này có vẻ như chưa được
quan tâm, và hơn nữa do tính đặc thù nên khó có thể đảm nhận các yêu
cầu của giao dịch B2C hay C2C.
Ngoài phí vận chuyển chưa
được cạnh tranh, chất lượng vận chuyển cũng chưa được đảm bảo. Cả VNPT
và Tổng công ty Đường sắt VN đều yêu cầu người gửi phải cam kết là
“hàng vỡ không khiếu nại” trước khi chấp nhận vận chuyển một mặt hàng
dễ vỡ.
Tuy nhiên, với việc gia nhập thị trường của DHL mới
đây (việc thực thi đầu tiên các cam kết WTO của VN), ngành mua bán qua
mạng đang hi vọng một sự cải thiện trong lĩnh vực này trong tương lai
gần. Trong tương lai xa, trong vòng năm năm sau khi gia nhập WTO, các
nhà đầu tư nước ngoài được thành lập liên doanh nhưng với vốn góp hạn
chế ở mức 51%; năm năm sau khi gia nhập cho phép thành lập công ty 100%
vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy, đã đến lúc VNPT nên nhìn lại chất lượng
phục vụ của mình nếu không muốn mình đứng ngoài cuộc chơi mua bán hàng
qua mạng.
Theo TTOnline
|